PHỔ TÁC DỤNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT LÀ GÌ?

Phổ tác dụng của thuốc BVTV là số lượng các loài dịch hại mà thuốc có thể phòng trừ được. Thuốc phòng trừ được nhiều loài dịch hại gọi là thuốc phổ tác dụng rộng, phòng trừ được ít loài dịch hại gọi là thuốc phổ tác dụng hẹp (hoặc thuốc chọn lọc).

Trong mỗi nhóm thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ đều có loại thuốc phổ rộng và thuốc phổ hẹp. Các thuốc trừ sâu gốc Lân hữu cơ, Carbamate và Cúc tổng hợp đều là các thuốc có phổ tác dụng rộng, phòng trừ được nhiều loại sâu miệng nhai và chích hút.

Các thuốc điều tiết sinh trưởng côn trùng như chất Buprofezin chỉ trừ được sâu chích hút nhóm biến thái không hoàn toàn như rầy, rệp, bọ xít; chất Chlorfluazuron chỉ trừ được sâu non bộ cánh vẩy, là những thuốc có phổ tác dụng hẹp.

Các thuốc trừ bệnh như thuốc gốc đồng, Mancozeb, Zineb, Carbendazim, Benomyl, Propiconazole … là thuốc phổ rộng. Chất Validamycin chỉ trừ được nấm Rhizoctonia, chất Fthalide chỉ trừ nấm bệnh Đạo ôn, là những thuốc có phổ tác dụng hẹp.

Trong các loại thuốc trừ cỏ có các thuốc phổ rộng trừ được nhiều loại cỏ lá hẹp và lá rộng như Butachlor, Pretilachlor, Glyphosate … Các thuốc Quinclorac, Sethoxydim… chỉ trừ cỏ hòa bản; thuốc 2,4D, Bensulfuron.… chỉ trừ được cỏ năn lác và cỏ lá rộng, là các thuốc có phổ hẹp.

Thuốc trừ sâu phổ rộng thường dễ hại các loài thiên địch hơn thuốc phổ hẹp. Các thuốc phổ hẹp tác dụng với đối tượng phòng trừ thường mạnh hơn, nên còn gọi là thuốc đặc hiệu hoặc thuốc chuyên trị. Trong trường hợp cần trừ một loài sâu, bệnh hoặc cỏ đang phát triển mạnh thì nên chọn dùng thuốc đặc hiệu. Thí dụ có nhiều thuốc có thể trừ được nấm bệnh Đạo ôn nhưng khi bệnh phát triển nhiều nên dùng các thuốc đặc hiệu như Rabcide, Trizole, Beam …

Trả lời bởi : Ths: Nguyễn Mạnh Cường

NATIVO + ANTRACOL = PHƯƠNG THỨC TRỪ BỆNH HỮU HIỆU CHO CÂY TRỒNG – AGRICULTURE HỘI NÔNG DÂN VIÊN NAM

Hiện nay do tình hình thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp, nóng lạnh thất thường, nhiều bệnh hại lúa sẽ có nguy cơ phát triển phá hại nặng trên diện rộng. Để giúp người sản xuất lúa lựa chọn thuốc phòng trừ bệnh hại kịp thời, đạt hiệu quả nâng cao năng suất và chất lượng gạo, giảm chi phí sản xuất, chúng tôi xin giới thiệu 2 loại thuốc phòng trừ bệnh hại cây trồng của Công ty Bayer.

1- Nativo 750 WG – thuốc trừ nấm thế hệ mới

NATIVO

– Nhờ sự kết hợp chặt chẽ của 2 hợp chất Trifloxystrobin và Tebuconazol, với sức mạnh tổng hợp, thuốc Nativo 750WG thách thức mọi nấm bệnh. Do đặc tính tiếp xúc và lưu dẫn cao, có tính lan toả trong mô cây rất mạnh nên thuốc nhanh chóng bảo vệ cả 2 mặt lá cây, kể cả các bộ phận khác của cây ở bên trong lẫn bên ngoài dù không được tiếp xúc với thuốc. Vì vậy thuốc có tác dụng tối ưu, phòng và trừ triệt để, tận gốc tất cả các bệnh nấm hại cây trồng. Đây là thuốc đặc trị phổ rộng không chỉ phòng, trừ các loài nấm bệnh trên cây lúa mà còn phòng trừ được hầu hết các loài nấm gây bệnh trên các cây trồng khác như dưa hấu, cà phê, xoài, đậu các loại…

– Thuốc có tác động ức chế mạnh quá trình sinh tổng hợp Ergosterol (do hoạt chất Tebuconazol) và quá trình hô hấp của các nấm gây bệnh (do hoạt châtTrifloxystrobin) làm nấm bị tiêu diệt nhanh chóng song không làm ảnh hưởng đến cây trồng. Thuốc có tính an toàn cao, ở dạng bột thấm nước rất dễ sử dụng, có liều lượng sử dụng thuốc thương phẩm trên một đơn vị diện tích rất ít (chỉ 0,12 kg/ha lúa). Nativo 750WG tác dụng đặc trị đồng thời tất cả các bệnh nấm chủ yếu hại lúa như bệnh đạo ôn (lá và cổ bông), bệnh khô vằn, bệnh vàng lá, bệnh lem lép hạt… cũng như các bệnh nấm hại cây trồng khác.

2- Antracol 70WP – thuốc trừ nấm bổ sung vi lượng kẽm

ANTRACOL

– Thuốc trừ nấm bệnh tiếp xúc, có tác động đa điểm lên tế bào của nấm gây bệnh vì vậy nấm rất khó kháng thuốc đồng thời thuốc có tác dụng bảo vệ cây trồng ví như người chiến binh ngày xưa mặc bộ áo giáp kẽm.

– Nhờ có vi lượng kẽm dễ tiêu bổ sung nên thuốc Antracol 70WP có tác dụng kích thích mạnh sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa (kể cả cây trồng khác) dẫn đến làm lá lúa xanh hơn, cứng cây, bộ lá thẳng đứng cho đến khi cây lúa trỗ, đồng thời làm tăng khả năng chống chịu tất cả các bệnh. Đặc biệt thuốc này kích thích bộ rễ cây lúa phát triển rất mạnh, rễ nhiều hơn, dài hơn do đó khắc phục tốt bệnh vàng lá – thối rễ lúa.

Đặc biệt sự nếu kết hợp phun Nativo 750 WG + Antracol 70WP có thể giải quyết phòng trừ triệt để các bệnh nấm hại cây lúa từ đầu đến cuối vụ.

NATIVO + ANTRACOL

*Qui trình phòng trừ các bệnh nấm hại lúa suốt cả vụ có thể thực hiện đơn giản, ngắn gọn bằng công thức 3N + 2A (3Nativo + 2Antracol ), cụ thể như sau:

– Giai đoạn 1: Phun Nativo 750WG + Antracol 70WP (khoảng thời gian 30-40 ngày sau khi gieo) để phòng trừ các bệnh vàng lá, đạo ôn, khô vằn… đồng thời có tác dụng dưỡng lá, nuôi đòng.

– Giai đoạn 2: Phun kết hợp 2 thuốc như trên (khoảng thời gian 50-70 ngày sau khi gieo) để phòng trừ bệnh đạo ôn cổ bông, khô vằn, lem lép hạt… đồng thời có tác dụng giúp cây lúa trỗ đều, dưỡng hạt.

– Giai đoạn 3: Chỉ phun Nativo 750 WG có tác dụng phòng trừ lem lép giúp hạt lúa no nặng, sáng bóng.

Như vậy trong điều kiện thời tiết không quá biến đổi, chỉ cần 2 lần phun kết hợp thuốc Nativo 750WG + Antracol 70WP và 1 lần phun Nativo 750WG có thể bảo vệ cây lúa suốt cả vụ, làm giảm chi phí, tăng năng suất thu hoạch, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

CHÚC CÁC BẠN THÀNH CÔNG

——————————————————————————-
CÔNG TY TNHH VTNN VIỆT NAM NÔNG NGHIỆP SẠCH
Địa chỉ: Đường Nguyễn Trãi, Khu Dân Cư 4, Khu Phố Hiệp Tâm 2, Thị Trấn Định Quán, Huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Chuyên Thuốc bvtv _ hạt giống_ dụng cụ nông nghiệp
Hỗ Tư vấn kỹ thuật tại vườn
Hotline: 0919.817.033
Link web: https://vietnamnongnghiepsach.com.vn/
Link youtube 1: https://www.youtube.com/c/TrịBệnhChoCâyTrồng
Link youtube 2: https://www.youtube.com/c/KiếnThứcNôngNghiệp

FANPAGE: KĨ SƯ NÔNG NGHIỆP ĐỒNG NAI
Zalo và hotline đặt hàng: 0877552373

==> XEM THÊM TẠI ĐÂY:

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ TRỊ SƯƠNG MAI GÂY HẠI TRÊN CÂY NHO- CÔNG TY TNHH HUY NGUYỄN AGRI

BIOTED 603 SP-CAT 1LÍT/CHAI – PHÂN BÓN LÁ NPK SINH HỌC – CÔNG TY TNHH HUY NGUYỄN AGRI

PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ TRÊN NHÓM CÂY CÓ MÚI – AGRICULTURE HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

Những năm gần đây, Cây có múi được xem là một trong những cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều bà con nông dân, và vì vậy diện tích cây có múi ở Việt Nam hiện nay cũng tăng lên đang kể. Tuy nhiên, sự gia tăng về diện tích cũng như mật độ thâm canh khiến nhiều nhà vườn phải đối mặt với nhiều thách thức.

Một trong những thách thức lớn của nhiều nhà vườn hiện nay là bệnh Vàng lá thối rễ. Theo nhiều nhà vườn cho rằng, bệnh này đang phát triển nhanh chóng và rất khó kiểm soát khi phát hiện cây bệnh.

1. Tác nhân:
Bệnh vàng lá thối rễ do nhiều tác nhân gây ra, gồm các loài nấm Fusarium, Phytophthora, Pythium và Tuyến trùng. Trong đó, tác nhân chính là nấm Fusarium solani và Tuyến trùng. Tuyến trùng tấn công làm rễ tổn thương sau đó nấm Fusarium tấn công vào rễ cây thông qua vết thương hở của Tuyến trùng để lại.
2. Triệu chứng gây hại:
Trên lá:
     Lá bị vàng cả phiến lá và gân lá, có thể vàng một vài nhánh hay trên toàn cây, lá vàng dễ bị rụng. Chất lượng trái kém và bị rụng sớm.
 

BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ 1

Trên rễ:
     Rễ bị sưng sau đó bị thối, khi đào rễ cây bị nhiễm bệnh quan sát rễ có mùi hôi và phần vỏ dễ bị tách khỏi phần lõi rễ.
 

BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ

3. Biện pháp phòng trị: 
Thời điểm xử lý: Ngay khi bệnh xuất hiện, tưới 03 lần mỗi lần cách nhau 7 – 10 ngày hoặc khi thấy điều kiện thời tiết cho bệnh thuận lợi phát triển (từ mùa mưa chuyển sang mùa nắng hoặc từ mùa nắng sang mùa mưa) hay có thể phun ngừa mỗi lần xử lý ra đọt (tương ứng với các lần ra rễ mới)
Phương pháp xử lý:
– Phòng bệnh: Xử lý định kỳ 20 – 30 ngày/lần.
– Trị bệnh: Xử lý liên tục 4 – 5 lần, cách nhau 7 ngày. Sau đó, xử lý định kỳ 20 – 30 ngày/lần.

BÀ CON NÔNG DÂN PHỐI CẶP THUỐC AGRI FOS 700SOSIM 300SC

1.AGRI FOS 700

CLICK VÀO AGRI FOS 700  ĐỂ XEM CHI TIẾT SẢN PHẨM

AGRI-PHOS 700

2.SOSIM 300SC

SOSIM 300SC

CHÚC CÁC BẠN THÀNH CÔNG

——————————————————————————-
CÔNG TY TNHH VTNN VIỆT NAM NÔNG NGHIỆP SẠCH
Địa chỉ: Đường Nguyễn Trãi, Khu Dân Cư 4, Khu Phố Hiệp Tâm 2, Thị Trấn Định Quán, Huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Chuyên Thuốc bvtv _ hạt giống_ dụng cụ nông nghiệp
Hỗ Tư vấn kỹ thuật tại vườn
Hotline: 0919.817.033
Link web: https://vietnamnongnghiepsach.com.vn/
Link youtube 1: https://www.youtube.com/c/TrịBệnhChoCâyTrồng
Link youtube 2: https://www.youtube.com/c/KiếnThứcNôngNghiệp

FANPAGE: KĨ SƯ CÂY TRỒNG TỈNH ĐỒNG NAI
Zalo và hotline đặt hàng: 0877552373

==> XEM THÊM BÀI VIẾT:

KỸ THUẬT LÀM HOA, TĂNG NĂNG XUẤT TRÊN CÂY CAM SÀNH – CÔNG TY TNHH HUY NGUYỄN AGRI

KHẮC PHỤC BỆNH BƯỚU RỄ TRÊN CÂY TRỒNG – CÔNG TY TNHH HUY NGUYỄN AGRI

CÁCH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH BẠC LÁ TRÊN CÂY BƯỞI

Triệu chứng:

Bạc ở lá non trước, sau đó đến lá bánh tẻ và lá già.

benh bac la tren cay buoi
benh bac tren cay buoi

Phân biệt với hiện tượng toàn bộ tán lá (lá non, lá bánh tẻ, lá già) cùng bạc vào một thời điểm. Trường hợp này nguyên nhân chính là do nhện chích hút.

Nguyên nhân:

Do bộ rễ bị tổn thương, rễ cám không phát triển được, rễ lớn bị tuột vỏ hoặc thối đen. Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng trên là môi trường xung quanh rễ bị ngập úng, điều kiện thoát nước kém, đồng thời nấm, vi khuẩn đang tấn công mạnh vào bộ rễ.

Chính điều này làm cây suy kiệt, chất dinh dưỡng, khoáng chất và nước không đưa lên được để nuôi các bộ phận bên trên.

Cách phòng và trị bệnh:

Tỉa cành, tạo tán thông thoáng, giúp ánh sáng lọt qua tán lá, chiếu soi xuống tầng đất, làm đất khô thoáng.

Không bón đạm cho cây mà thay vào đó tăng lượng lân, kali, canxi, magie, silic và các nguyên tố vi lượng.

Bón vôi vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa.

Bổ sung lượng phân chuồng (đã ủ trichoderma đúng quy trình) vào đất hằng năm.

Quy trình sử lý bệnh bằng thuốc:

Bước 1:

Tiến hành phun một số thuốc có hoạt chất sau:

Difenoconazole + Tricyclazole + Hexaconazole (Super Tank 650WP)

Hoặc:

Chlorothalonil + Cymoxanil + Metalaxyl (Elfigo 480SC)

Hoặc:

Iprovalicab + Propineb + Azoxystrobin (Interest 667.5WP hoặc Melody 667.5WP + Overamis 300SC)

Phun 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày.

Bước 2:

Sau khi phun lần 2, 4 ngày xử lý thuốc có hoạt chất sau:

Streptomyces lydicus (Actinovate 1SP)

Cytosinpeptidemycyn (Sat 4SL)

Fugous Proteoglycans (Elcarin 0.5SL)

Streptomycin sulfate + Oxytetracylin hydrochloride (Ychatot 900SP hoặc Novaba 68WP)

Bước 3:

Sau khi cây khỏi bệnh, chúng ta tiến hành bổ sung lại chất dinh dưỡng cho cây, để bù vào những lượng chất mà cây đã mất, lưu ý thời kỳ này không bón hoặc phun đa lượng cho cây, chúng ta có thể phun theo một số công thức sau:

Trung vi lượng + Amino Acid (Star Fish + Amino 1000)

Rong biển + Combi (Halifax + Combi đen)

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

CƠ CHẾ HẤP THU DINH DƯỠNG CỦA CÂY TRỒNG

Vạn vật có 2 kiểu dinh dưỡng là tự dưỡng và dị dưỡng. Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng là sinh vật tự dưỡng vì chúng tự tạo nên được dinh dưỡng cho mình thông qua việc cố định khí CO2 của không khí dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời.

Chất có thể biến năng lượng của ánh sáng để cố định CO2 thành chất đường bột là chất diệp lục, có màu xanh đặc trưng – xanh lá cây. Tuy nhiên, nếu không có các nguyên tố khoáng khác và nước có trong đất được hấp thu bởi hệ rễ thì dù cho ánh sáng dồi dào, cây cũng không thể tự dưỡng biến COthành đường, bởi vậy có thể nói cây trồng có 2 hệ thống sinh dưỡng, là hệ rễ và hệ lá.

HỆ THỐNG DINH DƯỠNG LÁ                 

Muốn cố định được nhiều CO2 thì có 2 điều kiện tiên quyết là phải nhiều ánh sáng và nhiều lá. Trong cùng một giống và một điều kiện ngoại cảnh, thì diện tích lá sẽ tăng nếu kéo dài được tuổi thọ của lá, cho các lá đứng để ít che khuất nhau. Mặt khác phải hạn chế tối đa phần lá “ăm bám”, là những lá bị che trong tán, quang hợp không đáng kể nhưng vẫn sử dụng và tiêu hao dinh dưỡng.

Với lúa, kỹ thuật bón phân rất quan trọng vì nếu bón phân đúng thì sẽ kéo dài được thời gian xanh của các lá đòng và sẽ rất ít “lá ủ” ở gốc lúa nên hiệu quả quang hợp sẽ tăng, kéo theo việc tăng năng suất.

Với cây ăn quả, thì việc tỉa cành tạo tán cũng sẽ hạn chế lá bị che khuất. Mặt khác, tùy từng cây, từng giai đoạn cụ thể việc duy trì các chồi ngọn cũng sẽ có tác dụng hạn chế các chồi nách, qua đó sẽ hạn chế được “lá ăn bám”.

Ngoài ra, lá cũng còn có thể là con đường cung cấp các khoáng chất trong các trường hợp cây ở giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng, con đường hấp thu qua rễ không kịp thời hoặc là các khoáng vi lượng, việc hấp thu qua rễ bị thất thoát lớn.

HỆ THỐNG DINH DƯỠNG RỄ

Muốn hệ rễ hấp thu được nhiều khoáng và nước thì hệ rễ phải   phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Với lúa, việc cày ải phơi đất là rất quan trọng vì nhờ vậy mà hệ rễ phát triển nhiều hơn, sâu hơn. Với cây trồng cạn việc phải xới xáo đất để cung cấp đủ ôxy cho rễ phát triển là điều kiện tiên quyết. Hệ rễ rất dễ bị tổn thương nếu gặp các điều kiện bất lợi như gặp đất phèn (các ion Fe ++, Al +++) hay bị ngộ độc hữu cơ,

Trên thực tế, khi bón phân đã có một lượng lớn phân bón bị thất thoát. Ngoài các yếu tố bất khả kháng, còn một số yếu tố khác có thể hạn chế nếu biết cách bón phân đúng.

+ Phải bón đúng vùng rễ: Diện tích vùng rễ phát triển theo hình chiều của tán lá, trong đó phần rìa phía ngoài tập trung nhiều rễ con, nhiều lông hút nên khi bón phân phải đào rãnh theo hình tròn của hình chiếu tán lá.

+ Phải bón kèm với việc tưới nước, nhất là với phân lân vì nước sẽ hòa tan phân đưa phân tới vùng hút của rễ.

THẤT THOÁT PHÂN BÓN VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ

Lượng phân bón thất thoát trong quá trình canh tác là rất lớn, nhất là lân, đạm và kali.

Với phân lân: Hiệu quả sử dụng phân lân rất thấp, trường chỉ đạt 25 – 30%. Phân lân thất thoát chủ yếu là do bị keo đất giữ chặt, do anion HPO4 gặp phải các Cation Fe ++, Al +++ sẽ biến thành các dạng khó tiêu, rễ không thể hấp thụ.

Có thể hạn chế tình trạng trên bằng cách đưa lân đến rễ nhưng không cho tiếp xúc với các cation Fe ++, Al +++. Một màng mỏng có bán chất là một axít hữu cơ có thê là AVAIL được phát kiến bởi các nhà khoa học Mỹ đã được Cty CP Phân bón Bình Điền áp dụng trong sản phẩm DAP Đầu trâu P+.

Các thực nghiệm trên diện rộng ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước đã khẳng định sử dụng DAP Đầu trâu P+ tiết kiệm được 30% lượng phân lân nhưng năng suất vẫn đạt cao bình thường. Chính vì vậy mà loại phân này được đóng gói 35 kg/bao nhưng giá trị sử dụng bằng với bao phân DAP 50 kg thông thường.

Với phân đạm: Hiệu quả sử dụng phân đạm thường chỉ đạt 40 – 45%. Lượng đạm thất thoát chủ yếu do quá trình bay hơi N ở dạng amoniac. Việc các Cation NH4+ biến thành NH3 và NO3 do men Ureaza. Sẽ hạn chế được thất thoát nếu kiềm chế được hoạt động của men này và Agrotain, một phát kiến thú vị của các nhà khoa học Mỹ đã làm được việc đấy.

Agrotain được Cty CP Phân bón Bình Điền nhập khẩu độc quyền về Việt Nam và sản xuất nên đạm hạt vàng Đầu trâu 46A+. Thực chất đấy là phân urê có hàm lượng đạm 46% nhưng nhờ có Agrotain nên tỷ lệ thất thoát đã được giảm xuống và bao phân đạm hạt vàng Đầu trâu 46A+ cũng chỉ đóng bao 35 kg nhưng giá trị sử dụng bằng với bao phân urê 50 kg thông thường.

Ngoài sản xuất nên phân đạm hạt vàng, Agrotain còn được sử dụng trong các chủng loại phân NPK như NPK Agrotain lúa 1, NPK Agrotain lúa 2…

Việc sử dụng các thành tựu khoa học hiện đại của thế giới không những mang lại hiệu quả cao cho người sử dụng mà còn giảm thiểu được ô nhiễm môi trường. Nhờ ưu việt đấy mà các sản phẩm của Bình Điền được tiêu thụ ngày càng nhiều, kể cả nội địa và xuất khẩu.

CÂY HẤP THU DINH DƯỠNG VÀ PHÂN BÓN NHƯ THẾ NÀO?

Cây hút các chất dinh dưỡng dưới dạng ion hòa tan trong nước. Rễ là bộ phận chính hấp thu chất dinh dưỡng từ đất và phân bón, ngoài ra cây còn hấp thu các chất dinh dưỡng từ phân bón lá qua lá.

Các chất hữu cơ, chất khoáng trong đất và phân bón không hòa tan phải nhờ các loại vi sinh vật, các phản ứng hóa học phân hủy thành các chất hòa tan để cây trồng có thể hấp thu và sử dụng. Cây hấp thu đạm dưới dạng Amon và nitrat, lân dưới dạng HPO42– và HPO4-, kali dưới dạng ion K+.
     Một số chất bị keo đất giữ lại cây khó hấp thu, có thêm chất hữu cơ (phân hữu cơ) cây trồng dễ hấp thu hơn.
Rễ cây có thể tiết ra một số acid hữu cơ có khả năng phân giải, phân hủy  các chất khó tan, khó tiêu (khó hấp thu) thành các chất dễ tan dễ tiêu (dễ hấp thu).
I.Cơ chế hấp thu/ hút các chất dinh dưỡng qua rễ
     Rễ là bộ phận chính hấp thu nước và các chất dinh dưỡng của cây. Các chất dinh dưỡng dưới dạng ion hòa tan được rễ hấp thu nhờ sự khuyếch tán và thẩm thấu ở bề mặt rễ (chóp rễ và lông hút).
     Rễ cây hấp thu/ hút chất dưỡng chất (các ion khoáng) theo cơ chế thụ động, cơ chế chủ động hay cơ chế hút khoáng sinh lý.
1. Cơ chế hút, hấp thu bị động (thụ động)
     Là sự hấp thu/ hút chất dinh dưỡng nhờ sự khuyếch tán do chênh lệch nồng độ, các ion từ nơi có nồng độ cao di chuyển đến nơi có nồng độ ion thấp mà không cần tiêu hao năng lượng. Các ion khoáng xâm nhập vào tế bào khi nồng độ ion trong đất cao hơn trong rễ, quá trình hấp thu, hút dinh dưỡng được thực hiện.
2. Cơ chế hút/ hấp thu chủ động
     Phần lớn các chất dinh dưỡng được hút/ hấp thu theo cơ chế này.
     Là quá trình ion dịch chuyển ngược từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng độ ion cao và cần sự tiêu hao năng lượng để thực hiện quá trình.
     Quá trình hấp thu/ hút chất khoáng (ion khoáng) có liên quan đến quá trình hô hấp của rễ. Sự hút ion nitrat (NO3-) với sự đào thải cacbonat (CO2) và các sản phẩm của quá trình hô hấp, sự trao đổi các anion và cation của môi trường được đảm bảo một cách liên tục. Điều kiện cần thiết cho sự hút/ hấp thu dinh dưỡng của bộ rễ là quá trình hô hấp.
     Cần có sự tiêu tốn năng lượng (ATP) và chất trung gian (chất mang). Nồng độ ion trong rễ nhiều khi có nông độ cao hơn ngoài môi trường nhưng nhờ màng menbram trên bề mặt chất nguyên sinh, là màng bán thấm, không cho những ion đã vào trong tế bào đi ra ngoài. Trong qua trình trao đổi chất dinh dưỡng trên bề mặt màng đó tạo ra một số chất vừa tương tác với ion khoáng ngoài môi trường vừa vận chuyển chúng qua màng (phức hệ chất mang – ion), sau khi xâm nhập vào trong phức hệ đó được phá hủy. Các ion ở lại phía trong tế bào, còn chất mang lại quay ra và tiếp tục nhiệm vụ vận chuyển chất khoáng.
Chất mang được coi là phương tiện chuyên chở, nhờ nó mà các ion đi qua được màng tế bào để vào bên trong.
3. Cơ chế hút khoáng lý hóa
     Là sự hút chất dinh dưỡng qua sự trao trổi ion giữa dung dịch đất và rễ cây. Trong quá trình sinh trưởng, rễ cây thiết ra một số chất acid có khả năng phân ly thành ion âm và dương. Khi một ion mang điện rễ thải ra dung dịch đất gây ra sự mất cân bằng điện, sẽ có sự xâm nhập của ion mang điện tích cùng dấu từ dung dịch đất để bù đắp sự mất cân bằng đó.
4. Sự hút, hấp thu dinh dưỡng chịu sự ảnh hưỡng của những yếu tố nào?
Quá trình hút/ hấp thu chất dinh dưỡng chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Tình trạng sức khỏe cây trồng:

  • Cây trồng sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, quá trình hô hấp mạnh, bộ rễ phát triển thì khả năng hút/ hấp thu dinh dưỡng cũng mạnh, tốt hơn. Còn nếu cây phát triển kém, bị sâu bệnh nhiều thì quá trình hấp thu/ hút dinh dưỡng cũng kém.

  • Quá trình quang hợp, hô hấp, trao đổi và tổng hợp các chất cành mạnh thì sự hút, hấp thu dinh dưỡng càng mạnh. Các chất khoáng tham gia vào quá trình quang hợp, cấu trúc nên bộ máy hô hấp, là nguyên liệu để tổng hợp các chất hữu cơ.

  • Khi cây ở thời kỳ sinh trưởng mạnh, thân lá phát triển, nhu cầu dinh dưỡng lớn thì sức hút, khả năng hấp thu dinh dưỡng cao hơn vào giai đoạn cuối khi cây đã già yếu. Thời kỳ cuối cây sử dụng dưỡng chất  đã hấp thu ở thời kỳ đầu. Một lượng dưỡng chất được vận chuyển từ các bộ phân  già về các bộ phận non và nuôi hạt, củ, quả. Trong quá trình canh tác cần chăm sóc bón phân ngay từ đâu khi cây còn nhỏ để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh tạo tiền đề để đạt một vụ mùa năng suất cao, chất lượng tốt.

Hàm lượng dinh dưỡng trong đất, phân bón:
     Cây lấy dinh dưỡng từ đất và phân bón. Khi nồng độ các chất dưỡng chất ở môi trường ngoài ở mức phù hợp thì khả năng hấp thu/ hút dinh dưỡng cũng tốt hơn. Nồng độ quá thấp khả năng hấp thu sẽ giảm, nồng độ quá cao rễ sẽ bị ngộ độc và chết.
     Các chất dinh dưỡng trong đất và phân bón có quan hệ qua lại với nhau và ảnh hưởng đến sự hấp thu của cây.
     Quan hệ hỗ trợ: Là khi có mặt ion này sẽ tăng khả năng hấp thu ion khác, thường là với các ion khác dấu. Vi dụ, có mặt K+ sẽ hút nhiều NO3-,…
     Quan hệ đối kháng: Là sự có mặt ion này sẽ giảm sự hấp thu ion khác, xảy ra với các ion cùng dấu, cùng hóa trị. Như  sự có mặt của K+ sẽ hạn chế rễ hấp thu NH4+, Mg2+. Chỉ khi nồng độ các chất vượt quá ngưỡng thích hợp thì mối quan hệ này mới xảy ra.
Yếu tố môi trường ngoài:
     Các yếu tố về nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm,…đều có ảnh hưởng đến quá trình hút, hấp thu chất dinh dưỡng. Khi điều kiện phù hợp thì quá trình hấp thu dinh dưỡng diễn ra thuận lợi. Còn trời quá nóng, lạnh, đất khô hạn hoặc ngập úng đều ảnh hưởng xấu. Làm giảm sự hút, hấp thu dinh dưỡng của cây. Đất thiếu không khí (yếm khí) hô hấp bị giảm khiến quá trình hút chất dinh dưỡng cũng kém.
     Độ pH môi trường kiềm hút các dinh dưỡng cation mạnh hơn, còn môi trường acid thì hút anion nhiều hơn cation. pH còn ảnh hưởng đến khả năng hòa tan các chất dinh dưỡng, hoạt đông của vi sinh vật đất (vi sinh vật phân giải chất hữu cơ, lân, cố định đạm,…). pH môi trường vượt qua giới hạn sinh lý thì rễ bị tổn thương, ức chế sự hút dinh dưỡng.
     Các yếu tố trên, ngoài việc ảnh hưởng đến tình trạng cây, còn ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong đất, từ đó ảnh hưởng đến sự hút chất dinh dưỡng của cây trồng.
5. Sự chuyển hóa, vận chuyển các chất dinh dưỡng của rễ
     Ngoài việc hút nước và chất dinh dưỡng, rễ cây còn tổng các chất dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng được rễ hấp thu phải trải qua quá trình chuyển hóa thành các hợp chất hữu cơ ngay ở rễ rồi mới vận chuyển lên các bộ phân khác để tổng hợp các chất cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển. Bộ rễ phát triển mạnh, ăn sâu, rộng, quá trình tổng hợp và vận chuyển dinh dưỡng cũng mạnh từ đó lại thúc đẩy quá trình hấp thu các chất. Quá trình tổng hợp diễn ra mạnh hơn vào ban ngày khi đủ nhiệt độ, đủ ánh sáng, nước, quá trình quang hợp diễn ra mạnh, tạo ra năng lượng tăng cường sự hấp thu các chất của rễ. Sự thoát nước ban ngày diễn ra mạnh tạo lực hút nước và dinh dưỡng từ rễ vận chuyển lên những bộ phận khác của cây.
II. Cơ  chế hút, hấp thu dinh dưỡng qua lá
     Trên bề mặt lá có các lỗ khí không, các chất dinh dưỡng hòa tan vào tế bào qua các lỗ khí khổng. Khí không là các lỗ cực nhỏ ở trên bề mặt của lá, giúp cây thoát hơi nước giúp nhiệt độ của cây ổn dịnh, mở để CO2 vào tham gia cho quá trình quang hợp.
     Một số ion còn thẩm thấu trực tiếp qua lớp biểu bì lá, con đường này phụ thuộc nhiều vào cấu tạo của lá cây, tầng cutin,…
     Dinh dưỡng xâm nhập vào không bào, không bào được xem là kho chứa của các dưỡng chất trước khi hấp thu vào tế bào.
     Quá trình hút các ion vào ban đêm thường hoạt động và diễn ra mạnh hơn, khi khí khổng mở. Những lá già hấp thu kém hơn các lá còn non, khi nồng độ dung dịch ngoài lá quá cao sự hấp thu dinh dưỡng của lá cũng bị hạn chế.
     Quá trình hấp thu, hút các dinh dưỡng phần lớn qua rễ là chính, các loại phân bón lá không thay thế được phân bón gốc.

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

CÔNG THỨC THUỐC GIÚP HOA LAN TO, LÂU TÀN, CÁNH HOA DÀI

Tạo đường, tạo sắc tố

giúp hoa phong lan

to, lâu tàn, cánh hoa dài.

Growmore 6-30-30

2g

Pha 1 lít nước

Root Plex

1cc

Vitamin B1

1cc

Ghi chú: sử dụng 6-30-30 : Phân Lân giúp kích thích cây ra rễ (sau đó cây đâm chồi) trong giai đoạn cây ra hoa

cong thuc giup hoa lan lau tan

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

VAI TRÒ CỦA KALI ĐỐI VỚI CÂY HOA LAN

🌺 I. KALI LÀ GÌ?
Kali là một trong 3 nguyên tố đa lượng thiết yếu nhất đối với cây trồng. Phân kali được ký hiệu là K, hàm lượng kali nguyên chất trong phân, được tính dưới dạng K2O và được ghi trên bao bì sản phẩm là % K2O. Phân kali phần lớn là các muối kali (KCL, K2SO4, KNO3, K2O, K2CO3, KHCO3 …) dùng làm phân bón cho cây trồng.

Ánh sáng kích thích sự hút kali của cây. Ban ngày cây hút kali mạnh và vận chuyển lên các bộ phận trên của cây, buổi tối ánh sáng yếu kali không được cây hút lên mà một phần kali còn được vận chuyển ngược xuống rễ cây và thoát ra ngoài. Hầu hết kali trong cây tồn tại dạng ion K+ kết hợp với các axit hữu cơ tạo nên các muối hòa tan, dễ dàng rút ra bằng nước.

🌺 II. TÁC DỤNG CỦA KALI

– Kali giúp tổng hợp đường bột, xellulo, hoa tăng màu sắc tươi bóng hơn.
Bên cạnh đó Kali rất quan trọng đối với cây trồng trong giai đoạn ra trái, giúp trái lớn hơn, hàm lượng đường tăng, màu sắc tươi hơn.
– Kali làm cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng cường khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét, chống chịu sâu bệnh.
– Thời tiết khô hạn, cây thiếu nước, bón Kali giúp giảm quá trình thoát hơi nước của cây qua bề mặt lá qua cơ chế đóng lỗ khí, giúp cây tránh rơi vào tình trạng kiệt nước.
– Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất trong cây, tăng cường vận chuyển dinh dưỡng. Kali giúp tăng cường quá trình quang hợp, hoạt hóa enzyme, hoạt hóa hoạt động của khí khổng, tổng hợp protein, đẩy nhanh quá trình vận chuyển hydrat carbon tổng hợp được từ lá sang các bộ phận khác.

🌺 III. TÁC HẠI KHI THIẾU KALI

– Lá hẹp, ngắn, xuất hiện các chấm đỏ, lá dễ héo rũ và khô, mép lá nhạt dần và có gợn sóng. – Cây mềm yếu, yểu lả, dễ bị lụi, gãy đổ, dễ bị sâu bệnh tấn công.
– Cây sẽ chậm ra hoa, hoa nhỏ, màu sắc không tươi và dễ bị dập nát. (hoa kém sắc, củ quả kém ngọt)
– Thiếu Kali sẽ giảm khả năng chống chịu của cây với điều kiện bất thuận (hạn, rét) cũng như tính kháng sâu bệnh.

🌺 IV. TÁC HẠI KHI THỪA KALI
– Thừa Kali sẽ tác động xấu lên rễ cây làm cây teo rễ.
– Thân, lá không mỡ màng, lá nhỏ.
– Thừa Kali dễ dẫn đến thiếu Magiê và Canxi.

🌺 V. CÁC LOẠI PHÂN BÓN KALI

– KCl: hay gọi là Kali đỏ, tuy nhiên thực tế mỏ Kali Clorua còn có dạng màu trắng, ví dụ nguồn Kali ở Lào, Canada,.. KCl là loại duy nhất có thể được khai thác từ mỏ trong các loại phân bón Kali… Đây cũng là loại phân bón Kali ưa dùng nhất của nông dân vì giá thành rẻ.
Trong thành phần KCl có chứa 50% K và 46% Cl. Điều đáng lưu ý ở đây là Cl không phải là nguyên tố dinh dưỡng có ích cho cây, ngược lại bón phân bón có chứa Cl trong thời gian dài làm đất bị mặn, ảnh hưởng nhanh nhất ở các vùng đất cát.

Nếu đất, giá thể mặn (nhiều muối) thì cây trồng không thể hấp thụ được dinh dưỡng, lâu dần giảm năng suất và khi đất nhiễm mặn quá cao, các bạn không thể trồng được bất kỳ cây gì nữa. Ở một số nước có nền nông nghiệp phát triển, như Tây Ban Nha, Hà Lan,… nông dân gần như không bao giờ sử dụng KCl để bón cho cây. Nên đừng ham rẻ mà lợi bất cập hại nhé.

– KNO3 hay còn lại là Kali Nitrate, ngoài thành phần 38% Kali, trong KNO3 còn có 13% N (đạm), đạm là nguyên tố đa lượng, có vai trò quan trọng trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng của cây nên phù hợp sử dụng trên một số rau ăn lá hoặc giai đoạn đầu của cây ăn quả. Tuy nhiên trong thời kỳ cây ra hoa và kết quả, cây chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực nên cây ít có nhu cầu đạm. Vì thế, khi bón KNO3 trong giai đoạn này lại kích thích quá trình sinh trưởng sinh dưỡng (đâm chồi, nuôi lá, thân, cành,…) và kiềm hãm sự phát triển hoa và quả, làm giảm năng suất.

– K2SO4: Nhìn thấy những bất lợi và tác hại của KCl đối với cây trồng, các nhà khoa học đã tìm cách tách chiết gốc Cl- và thay thế bằng gốc SO42- và tạo thành phân bón K2SO4. Ngoài thành phần là 41% K, K2SO4 còn có chứa 18% S là một nguyên tố trung lượng, đóng vai trò trong quá trình định hình chất diệp lục và là thành phần của protein của cây trồng. Đây là loại phân bón Kali được xem là hiệu quả nhất để tăng năng suất cho cây so với các loại phân bón khác. Lượng Cl luôn được kiểm soát tối thiểu, không gây hại cho đất và cây trồng. Nếu so sánh với KNO3, K2SO4 sử dụng hiệu quả hơn về mặt chi phí (giá thành thấp hơn KNO3 từ 10.000 – 20.000đ/kg) và mang lại hiệu quả cao hơn trong giai đoạn cây trồng ra hoa và tạo quả.

– MKP: có chứa 28 – 29% Kali và 22.7% Phospho (lân), sử dụng rất tốt trong giai đoạn trước khi ra hoa đến khi tạo quả vì lân thúc đẩy sự hình thành hoa. Tuy nhiên, giá thành cũng khá cao giống như phân bón KNO3.

– Phân bón NPK: Không khuyến khích sử dụng phân bón này vì thành phần Kali trong phân bón NPK thường được sản xuất từ 2 nguồn: KCl và K2SO4.
Tuy nhiên, chúng ta không thể nào biết nhà sản xuất đã sử dụng nguồn Kali nào để phối trộn và họ cũng không bao giờ đề cập trên nhãn mác hay bao bì, và phần lớn nhà sản xuất thường sử dụng nguồn KCl để tiết giảm chi phí, giá thành. Tuy nhiên, tác hại của Clo đã giải thích ở phía trên.

– Kali từ tro: Tro cây quýt có đến 30% K2O, đay 31%, rơm rạ 2-4%K2O. Kali trong tro dễ tan có tính kiềm và có lợi cho đất chua. Hàm lượng. lân, magiê và vi lượng trong tro cũng khá. Tro rơm rạ lúa, lượng silic rất cao cho nên tro cũng còn có thể xem là loại phân silic, phân lân, phân magiê và phân vi lượng

P/s: Tiện chú thích thêm:
– Các nguyên tố đa lượng gồm: N, P, K (Nitơ, Phospho, Kali).
– Các nguyên tố trung lượng gồm: Ca, Mg, S (Canxi, Magie, Lưu Huỳnh).
– Các nguyên tố vi lượng gồm: B, Cl, Cu, Fe, Mn, Mo, Zn (Bo, Clo, Đồng, Sắt, Mangan, Molipden, Kẽm).

Đạm (N) tính bằng % Nitơ (N) nguyên chất. Lân (P) tính bằng % oxyt phospho (P2O5). Kali tính bằng % oxyt kali (K2O). Lưu Huỳnh tính bằng % lưu huỳnh nguyên chất (S), Canxi tính bằng % oxyt canxi (CaO), Magie tính bằng % oxyt magie (MgO).

Nguồn: Tạp chí hoa lan Việt Nam

CÔNG DỤNG CỦA KALI ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG

Phân kali là một trong các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, đóng vai trò quan trọng trong SX nông nghiệp, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Cây hút kali từ dung dịch đất, các loại cây trồng khác nhau hấp thu lượng kali khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu của cây ở mỗi giai đoạn sinh trưởng và phát triển. Cây chỉ sử dụng được kali trong đất ở dạng dễ tiêu, đối với cây hàng năm cần một lượng kali thấp vào đầu vụ khi cây còn nhỏ.

Khi cây lớn lên, nhu cầu kali của cây càng tăng đặc biệt là giai đoạn cây trồng trưởng thành và chuẩn bị ra hoa. Kali hỗ trợ cho quá trình chuyển hóa năng lượng, đồng hóa các chất dinh dưỡng để kiến tạo năng suất và chất lượng sản phẩm. Bón đủ kali sẽ tạo điều kiện cho cây có khả năng hút đạm và lân tốt hơn, điều hòa tốt các chất dinh dưỡng là nền tảng cho một vụ mùa bội thu.

Nghiên cứu của các nhà khoa học về đất phèn vùng ĐBSCL cho thấy diện tích đất phèn của toàn vùng vào khoảng 1,5 triệu ha, được phân bố chủ yếu ở Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu. Đất phèn thường có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu thấp: Hàm lượng kali tổng số trong đất dao động từ 0,03 – 0,09% và kali trao đổi từ 0,03 – 0,04 ldl/100g đất.

 

Nông dân ĐBSCL bón phân cho lúa

Nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng đối với cây trồng đã chứng minh rằng trên đất phèn kali là yếu tố hạn chế đứng sau lân do hàm lượng kali trong đất thấp, rễ bị rửa trôi trong quá trình canh tác và cải tạo. Do vậy để cây trồng hướng tới năng suất tiềm năng và chất lượng sản phẩm tốt trên đất phèn thì con đường duy nhất là phải bổ sung kali qua con đường bón phân.

Nhiều kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới và nước ta đã chứng minh rằng: Nếu thiếu kali sẽ gây ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất trong cây, làm suy yếu hoạt động của hàng loạt các men, giảm quá trình trao đổi các hợp chất, đồng thời tăng chi phí đường cho quá trình hô hấp.

Hậu quả của quá trình này là các lá già trở nên vàng sớm, lá bị khô bắt đầu từ mép lá và lan rộng ra toàn bộ lá. Đối với những cây có hạt thì ngoài hiện tượng lá bị khô cháy, còn xuất hiện hiện tượng hạt lép và làm giảm năng suất cũng như chất lượng nông sản.

Nghiên cứu về hiệu lực của kali đối với một số cây trồng các nhà khoa học của Viện Lúa Ô Môn và Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã chỉ ra rằng hiệu lực của kali thể hiện rất khác nhau tùy theo từng loại đất của từng vùng. Đối với cây lúa trên đất phèn mặn với mật độ sạ tối thích là 150 kg/ha thì nên bón cho lúa với lượng đạm-lân-kali nguyên chất là: 80 kg N + 60 kg P2O5 + 45-60 kg K2O cho hiệu quả cao nhất và hiệu lực của của kali trung bình đạt 4,6 – 5,5 kg thóc/kg phân kali.

Đối với cây công nghiệp ngắn ngày cũng cho thấy rằng phân kali đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng năng suất và chống chịu sâu bệnh, kali làm tăng năng suất đậu tương khoảng 45% so với không bón, hiệu suất kali đạt từ 5,8 -15 kg đậu/kg K2O. Đối với cây lạc tùy theo lượng kali năng suất lạc tăng từ 13 – 41% so với không bón, với hiệu suất sử dụng kali từ 2,3 – 8,2 kg lạc vỏ khô/kg K2O bón vào.

Để nâng cao hiệu quả của phân bón kali cho cây trồng, người  SX cần tuân thủ những hướng dẫn về sử dụng phân kali cho cây trồng thông qua các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật hoặc qua kênh khuyến nông khu vực.

Đối với các loại cây rau ăn lá kali làm tăng năng suất không nghiều (8 – 12%) song kali có thể làm tăng chất lượng rau quả như giảm tỷ lệ thối nhũn, giảm đáng kể hàm lượng nitrat trong sản phẩm. Đối với cây rau bắp cải lượng kali nên bón dao động từ 100 – 150 kg/ha. Lượng cần bón cân đối NPK cho cải bắp trên 1 ha từ 20 – 25 tấn phân chuồng + (180 – 200 kg) N + (80 – 100 kg) P2O5 + 120 kg K2O.

Đối với các loại cây ăn quả như xoài, nhãn, chôm chôm… Bón kali cho cây ăn quả nói chung sẽ làm tăng quá trình phân hóa mầm hoa, giảm tỷ lệ rụng, tăng tỷ lệ đậu quả và nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua tích lũy đường trong quả, vitamin; ngoài ra kali còn làm cho màu sắc quả đẹp tươi khi chín, làm cho hương vị quả thơm và làm tăng khả năng bảo quản của quả góp phần nâng cao giá trị thương mại trên thị trường.

Tóm lại kali trong đất không phải là vô hạn, cây hút kali từ đất đáp ứng cho quá trình sinh trưởng, phát triển và kiến tạo năng suất. Ngày nay nông nghiệp nước ta không chỉ chú trọng về năng suất mà chất lượng nông sản cũng đã được quan tâm, chính vì vậy việc bón kali cân đối cho cây trồng càng trở nên cấp thiết nhằm bù đắp phần thiếu hụt trong đất do cây trồng đã lấy đi hàng năm.

NGUYỄN DUY PHƯƠNG

VÌ SAO HOA XOÀI NGẮN LẠI, KẾT LẠI THÀNH CHÙM NHỎ, KHÔNG PHÁT TRIỂN

Triệu chứng: Bông xoài ngắn lại, kết lại thành chùm nhỏ, không phát trển, giống đầu lân.

hoa xoai ngan lai

Nguyên nhân của hiện tượng trên được chia làm 2 trường hợp:

– Trường hợp 1: cây bị thiếu dinh dưỡng (đa, trung, vi lượng, acid amin, enzym,…), trường hợp này chúng ta quan sát thêm bộ lá, tán lá của cây xoài, nếu tán lá xanh tốt, không bệnh hại hay côn trùng tấn công, cây đang phát triển tốt, thì chúng ta loại trừ trường hợp cây thiếu dinh dưỡng.

– Trường hợp 2: cây bị rối loạn sinh lý do bị rối loại hormon trong cây, trường hợp này xảy ra do chúng ta đã đổ gốc hoặc phun không đúng liều lượng hoạt chất Paclobutrazol.

Biện pháp xử lý:

Cách 1: Dùng hormon Brassinosteroid (Vitazyme) để giải độc và chống sốc cho cây.

Vitazyme-1

Cách 2: Dùng Vitamin B12 để giải độc và chống sốc cho cây.

VITAMIN-B12

Sau đó khoảng 7 đến 10 ngày, chúng ta dùng những loại phân bón lá hữu cơ được chiết suất từ rong biển, sao biển để phục hồi cây như Halifax, Star Fish.

halifax

star-fish

Tư vấn kĩ thuật: 0933.067.033

1 2 3 21